................................................................

Skincol (Phức hợp kiềm nhôm của Sucralfate-8-sulfate)

Skincol (Phuc hop kiem nhom cua Sucralfate-8-sulfate)

Humid Gel dùng ngoài da điều trị vết thương hở, vết bỏng, vết loét lâu liền  

NGHIÊN CỨU HIỆU QUẢ LIỆU PHÁP KẾT HỢP ESOMEPRAZOLE-CLARITHROMYCIN VÀ AMOXILIN TRONG ĐIỀU TRỊ LOÉT DẠ DÀY TÁ TRÀNG CÓ ...

NGHIEN CUU HIEU QUA LIEU PHAP KET HOP ESOMEPRAZOLE-CLARITHROMYCIN VA AMOXILIN TRONG DIEU TRI LOET DA DAY TA TRANG CO HELICO BACTER PYLORI (+)

NGHIÊN CỨU HIỆU QUẢ LIỆU PHÁP KẾT HỢP ESOMEPRAZOLE-CLARITHROMYCIN VÀ AMOXILIN TRONG ĐIỀU TRỊ LOÉT ...

Colludoll (Diacerein 25mg) - Rx thuốc kê đơn

Giải pháp tối ưu cho điều trị thoái hoá khớp

Bệnh khớp trở nặng ngày mưa

Benh khop tro nang ngay mua

Các nghiên cứu đã ghi nhận, mưa nắng thất thường, độ ẩm cao kết hợp ...

Các xu huớng điều trị VTDK mới trong tương lai

Trị liệu sinh học
Nhiều mục tiêu của các tác nhân làm cải biến đáp ứng sinh học (Biological Response Modifers – BRMs) đang được nghiên cứu tiếp. Hứa hẹn nhất là các thuốc phong bế đồng kích (co – stimulation blockers) và thuốc ức chế men proteinkinase kích hoạt phân bào (Mitogen activated proteinkinase – MAPK)

Sự phong bế đồng kích
Một số tác nhân sinh học chống lại những phần tử đồng kích (hoặc những cầu gắn của chúng) đã được xét nghiệm thấy trong những mẫu động vật mang bệnh tự miễn, và có thể có lợi ích lâm sàng ở nguời. Cộng với tương tác của thụ thể tế bào lympho T với cầu nối gắn peptid – MHC của nó, một chuỗi tương tác phân tử thứ phát, hoặc đồng kích, là cần thiết cho hoạt hoá đầy đủ tế ào lympho T. Tín hiệu thứ phát chủ yếu cung cấp bởi mối tương tác của CD 28 trên tế bào lympho T với B7-1 (CD 86) trên tế bào trình diện kháng nguyên (APC). CD 40 trên APC cũng tương tác với cầu gắn CD 40 (CD 40 L hoặc CD 154 là một chi nhánh của họ TNF của các protein) trên tế bào T cung cấp các tín hiệu thêm vào. Tiếp theo sự hoạt hoá, protein 4 kết hợp với lympho T độc (CTLA4, CD 152) được điều hành trên tế bào T. Đó là một phần tử có ái lực gấp 100 lần cao hơn đối với CD80 và CD 86, so với CD 28, và tham gia vào việc làm ngừng đáp ứng miễn dịch.
Những tế bào đích đối với điều trị miễn dịch ở người gồm có CD 40, cầu gắn CD40, CD80, CD86 và CD28. Những xét nghiệm lâm sàng thường nhằm vào một tập hợp protein gồm đoạn ngoại bào CTLA4 và đoạn Fc IgG1 của người (CTLA4-Ig), chúng ngăn chặn sự gắn B7 và CD 28. Trong nghiên cứu pha I ở những bệnh nhân bị vảy nến (psoriasis), việc điều trị bằng CTLA4-Ig dẫn tới 50% hoặc hơn nữa, cải thiện lớn hơn về lâm sàng liên quan với đáp ứng theo liều lượng. Sự phong bế tương tác của CD40/CD40L cũng đã đạt được ở những người bệnhbị lupus ban đỏ hệ thống (SLE)

Ức chế truyền tín hiệu:
Viêm và các đáp ứng phá huỷ cần có sự hoạt hoá gen thích hợp. Ngược lại, các gen này được hoạt hoá qua những “thác phản ứng” của các phân tử tín hiệu. Trong các tế bào miễn dịch và viêm, những phân tử tín hiệu quan trọng gồm yếu tố kappaB của nhân (NF-kB) và các kinase gây stress (MAPKs). Sự thể hiện của các phân tử này được thay đổi trong đáp ứng với các stress vật lý và các chất kích thích viêm như các cytokin, sốt, sốc, suy mòn hoặc các độc tố. Hướng nhắm của các phân tử này, vì vậy, cung cấp một chiến lược trị liệu hấp dẫn trong VKDT.
Về lý thuyết, việc phong bế những con đường tín hiệu thích hợp có thể điều hoà các gen, cần thiết không những cho quá trình viêm mà cả cho sự tăng sinh các tế bào hoạt dịch, sụn, và phá huỷ xương. P38 là một MAPK đặc biệt mà người ta tin rằng có tác dụng điều hành việc sản sinh ra TNF-α, IL-1. IL-6, IL-8, nitric oxid và thể hiện COX-2. Những chất ức chế P38 MAPK đã được biết là có hiệu quả trong một số mô hình bệnh gồm viêm, sốc nhiễm khuẩn, và các mẫu viêm khớp ở động vật. Một số ức chế P38 MAPK đang được nghiên cứu ở người để điều trị các bệnh tự miễn. Các yếu tố tác nhân ấy không chỉ tác động trên một loại đáp ứng tế bào không mong muốn, mà hơn nữa chúng còn có hoạt tính khi dùng theo đường uống.

Trị liệu gen
Một số BRMs như IL-1 ra và các trị liệu khác dựa trên cơ sở các cytokin, đều bị hạn chế vì thời gian bán huỷ quá ngắn. Trị liệu gen cho ta một phương pháp có thể tránh phải tiêm thuốc hàng ngày. Chủ yếu là gen mã hoá để sinh ra những sản phẩm trị liệu được đưa vào bên trong một trung gian virus không sao chép, sau đó gen này được đưa vào trong một môi trường, qua lòng mạch máu nếu muốn tác dụng toàn thân, hoặc trong các mô nếu muốn tác dụng tại chỗ. Nhiều mẫu gen đã được áp dụng thành công vào những mô hình viêm khớp ở động vật, và những nghiên cứu pha I trong viêm khương khớp đã được tiến hành ở Pittsburgh. Nhưng điều chủ yếu còn hạn chế hiện nay là chưa tìm được cách sử dụng an toàn các chuỗi virus một cách phổ cập, và vẫn còn cần những phương pháp mạnh để điều hành việc sao và chuyển các gen trị liệu.

Di truyền
Sự sắp xếp genome ở người đã cung cấp một danh sách liệt kê các gen mà người ta đã có thể chuyển thành những sản phẩm protein. Một số đã được phân định trước còn một số đáng kể mới phát hiện gần đây. Nhiều kỹ thuật có hiệu lực mạnh đã có mặt để so sánh sự sao chép hàng chục trong số hàng ngàn các gen như thế trong các mô khác nhau. Những phân tích đó đã được dùng để nghiên cứu nhiều loại khác nhau của viêm màng hoạt dịch khớp. Những việc như thế cũng cung cấp những ánh sáng mới vào trong bệnh sinh cũng như trị liệu và tiên lượng của bệnh.
Những phương pháp tương tự áp dụng với DNA genome chế từ máu, có thể cho ta một dấu chỉ tay di truyền của một cá thể, làm rõ sự có mặt hoặc vắng mặt của những “đa hình thái” trong cùng một loại gen. Các phân tích đó có thể dùng để tiên liệu một “khả năng” sẽ mắc VKDT ở một người, ở một cá thể đã phát bệnh rồi thì có thể tiên liệu về tính đáp ứng với những loại thuốc đặc hiệu. Ngành khoa học được gọi là “Dược lý di truyền” này sẽ hứa hẹn tìm ra những thứ thuốc mới với sự “dự báo” trước về tính hiệu lực của chúng với bệnh.

Những tiến bộ trong phẫu thuật
Mặc dù phẫu thuật tái tạo là một trong các tiến bộ lớn của việc cải thiện chất lượng sống cho nhiều người bệnh VKDT, nhưng một số hạn chế vẫn còn gặp phải như: các khớp giả bị long ra, các khớp thay thế không thoả đáng đối với nhiều vị trí như khớp cổ chân, khớp vai…Hiện nay, đã phát triển nhiều kỹ thuật và chiến lược để khắc phục các hạn chế ấy, kéo dài thêm tuổi thọ của các khớp giả, làm tăng thêm độ tiện lợi của các khớp giả…

Những phương pháp hình ảnh mới
Cộng hưởng từ (MRI) và siêu âm với độ phân giải cao (HRUS) đã trở thành những thăm dò thường quy ở một số trung tâm Xương khớp ở Châu Âu, các kỹ thuật này có thể cung cấp những hình ảnh không gian 3 chiều có giá trị cao trong chuẩn đoán khớp viêm và các cấu trúc viêm xung quanh. Những tiến bộ gần đây bao gồm đưa siêu âm Doppler vào thăm dò hệ cơ xương khớp, đưa các xét nghiệm máu kết hợp với hình ảnh học để đánh giá thêm các thông tin về cấu trúc. Nhiều đầu từ MRI mới được dùng nghiên cứu các khớp ngoại vi, cung cấp những hình ảnh có giá trị cao, thí dụ với các khớp bàn tay, cổ tay…mà không bị hạn chế bởi việc sử dụng các đầu từ toàn thân như trước đây

Sinh học tế bào gốc:
Việc phân định các tế bào gốc trung diệp đã cho hy vọng rằng những suy thoái ở sụn và xương có thể được sửa lại bởi các tế bào sụn và các tạo cốt bào tự nhân, tiền thân…có trong chất nệm tương ứng. Mặc dù những phương pháp kỹ thuật này chưa được áp dụng nhiều và mới chỉ áp dụng cho các viêm khớp, nhưng vai trò của chúng trong VKDT có thể sáng tỏ, nhất là khi những khiếm khuyết trung diệp đã được chứng minh là có vai trò khởi đầu trong bệnh sinh của bệnh viêm khớp dạng thấp.
  

 

Mời bạn xem thêm:

CÔNG TY CỔ PHẦN HAPPYPHARM

Địa chỉ: 63 Khương Thượng, Đống Đa, Hà Nội
Điện thoại: 04 629 67115 - 046 2967114 - Fax: 043 641 9838
Email: info@happypharm.com.vn
Website: http://www.happypharm.com.vn