................................................................

Skincol (Phức hợp kiềm nhôm của Sucralfate-8-sulfate)

Skincol (Phuc hop kiem nhom cua Sucralfate-8-sulfate)

Humid Gel dùng ngoài da điều trị vết thương hở, vết bỏng, vết loét lâu liền  

NGHIÊN CỨU HIỆU QUẢ LIỆU PHÁP KẾT HỢP ESOMEPRAZOLE-CLARITHROMYCIN VÀ AMOXILIN TRONG ĐIỀU TRỊ LOÉT DẠ DÀY TÁ TRÀNG CÓ ...

NGHIEN CUU HIEU QUA LIEU PHAP KET HOP ESOMEPRAZOLE-CLARITHROMYCIN VA AMOXILIN TRONG DIEU TRI LOET DA DAY TA TRANG CO HELICO BACTER PYLORI (+)

NGHIÊN CỨU HIỆU QUẢ LIỆU PHÁP KẾT HỢP ESOMEPRAZOLE-CLARITHROMYCIN VÀ AMOXILIN TRONG ĐIỀU TRỊ LOÉT ...

Colludoll (Diacerein 25mg) - Rx thuốc kê đơn

Giải pháp tối ưu cho điều trị thoái hoá khớp

Bệnh khớp trở nặng ngày mưa

Benh khop tro nang ngay mua

Các nghiên cứu đã ghi nhận, mưa nắng thất thường, độ ẩm cao kết hợp ...

BỆNH LÝ CỘT SỐNG HUYẾT THANH ÂM TÍNH

Bệnh lý cột sống là thể huyết thanh âm tính (Seronegative spondyloarthropaties) là một nhóm bệnh viêm đốt sống, viêm khớp có liên quan đến nhiều cơ quan. Khái niệm về bệnh lý cột sống thể huyết thanh âm tính (BLCSTHTAT) được wright và Moll nêu ra vào năm1964, dựa trên hội chứng Reiter do Hans Reiter mô tả đầu tiên vào năm 1916. Hiện nay, bệnh lý cột sống thể huyết thanh âm tính gồm có một số bệnh sau: viêm cột sống dính khớp, hội chứng Reiter/ viêm khớp phản ứng, viêm khớp vảy nến, bệnh khớp trong các bệnh lý tiêu hóa, viêm đại trực tràng chảy máu, bệnh Crohn….bệnh lý cột sống không xác định, bệnh viêm khớp thiếu niên thể viêm cột sống dính khớp.

Nhóm bệnh này có một số đặc điểm lâm sàng và xét nghiệm đặc trưng như: viêm đốt sống, viêm khớp cùng chậu, tổn thương ngoài khớp (da, niêm mạc, móng, mắt…)

Nhóm bệnh lý cột sống thể huyết thanh âm tính (BLCSTHTAT), là một nhóm bệnh xương khớp thường gặp chiếm tỷ lệ 15,4% trong các bệnh nhân điều trị nội trú tại khoa Cơ xương khớp bệnh viện Bạch Mai. Đây là nhóm bệnh chủ yếu gặp ở tuổi trẻ (80% bệnh nhân mắc bệnh dưới 40 tuổi) tỷ lệ mắc bệnh ở nam la 60%. Bệnh tiến triển kéo dài, có các đợt cấp tính nếu người bệnh không chẩn đoán và điều trị sớm sẽ dẫn đến các hậu quả nặng nề về chức năng vận động khớp, cột sống khả năng lao động và là một trong những nguyên nhân gây tàn phế hay gặp nhất trong các bệnh lý xương khớp.

Nhóm bệnh này có mối liên hệ chặt chẽ (30-85%) với kháng nguyên bạch cầu HLA-B27 của hệ thống hòa hợp tổ chức (MHC: major histocompatibility complex, tuy nhiên yếu tố gen không phải là nhân tố quyết định bệnh. Cơ chế bệnh sinh của nhóm BLCSTHTAT chưa được biết rõ, hiện nay có ba giả thuyết về cơ chế bệnh sinh được nhiều tác giả công nhận nhất là:
- Bệnh lý cột sống (BLCS) là một bệnh trung gian miễn dịch do sự có mặt của các kháng nguyên, kháng thể trong dịch khớp và màng hoạt dịch bệnh nhân, và sự tồn tại của các kháng nguyên này được coi là một trong những nguyên nhân gây bệnh.
- Vai trò của HA-B27 trong quá trình phát sinh và phát triển của bệnh.
- Vai trò của một số vi khuẩn: Sallmonella, Chlamydia trachomatis, Yersinia…
Trong nhóm BLCS, bệnh viêm cột sống dính khớp và viêm khớp phản ứng là hai bệnh hay gặp nhất chiếm tỷ lệ 80-90%
Hiện nay tiêu chuẩn chẩn đoán nhóm bệnh lý cột sống (BLCS) của Amor (1970) đã được thay thế bằng tiêu chuẩn chẩn đoán của nhóm nghiên cứu BLCS châu Âu (1990), phù hợp với lâm sàng và có độ nhầy và độ đặc hiệu cao. Tiêu chuẩn chẩn đoán của nhóm BLCSTHTAT gồm có:

1.Đau, viêm đốt sống. Hoặc 2. Viêm màng hoạt dịch khớp (chủ yếu là khớp ở chi dưới và không đối xứng)
Có kèm theo một trong các hội chứng sau đây: có tiến sử gia đình các bệnh: viêm cột sống dính khớp, bệnh lý ruột, đau vùng chậu hông, bệnh lý phần mềm quanh khớp, viêm khớp cùng chậu, vêm niệu đạo sinh dục.
Tuy nhiên đối với bệnh viêm cột sống dính khớp, hội chứng Reiter có tiêu chuẩn riêng biệt theo tiêu chẩn của hội Thấp khớp học Mỹ (ACR)
Nguyên tắc điều trị chung cho nhóm bệnh lý cột sống thể huyết thanh âm tính:
* Điều trị bảo toàn, duy trì chức năng vận động khớp: vận động khớp, thể dục liệu pháp.
* Điều trị chống viêm, giảm đau: sử dụng các thuốc chống viêm không steroid (NSAIDs) hợp lý, an toàn và hiệu quả.
* Điều trị phục hồi chức năng và phẫu thuật chỉnh hình khớp: sử dụng các phương pháp điều trị lý liệu pháp phục hồi chức năng thích hợp với từng giai đoạn bệnh, điều kiện sức khỏe của người bệnh. Tiến hành phẫu thuật chỉnh hình khớp hoặc thay khớp nhân tạo khi cần thiết.
* Hướng dẫn, giáo dục bệnh nhân hiểu biết về bệnh cũng như trong điều trị bệnh. Có sự hợp tác liên hệ thường xuyên giữa bác sĩ, bệnh nhân và người nhà bệnh nhân trong suốt quá trình điều trị bệnh… Tư vấn hướng nghiệp phù hợp với khả năng vận động và tình trạng sức khỏe của người bệnh.

I VIÊM CỘT SỐNG DÍNH KHỚP

1 Đại cương
Viêm cột sống dính khớp (VCSDK) là một bệnh viêm khớp mãn tính còn có tên gọi là bệnh Bechterew, Strumpell…và là bệnh hay gặp nhất trong nhóm bệnh lý cột sống thể huyết thanh âm tính (BLCSTHTAT). Bệnh VCSDK có mối liên quan chặt chẽ nhất với HLA-B27 (80-90%). Bệnh thường gặp ở nam giới (80-90%), tuổi mắc bệnh trẻ, dưới 30 tuổi chiếm tỷ lệ 80%. Bệnh có tính chất gia đình (3-10%).
1.1 Dịch tễ học
Bệnh VCSDK có mối quan hệ với yếu tố HLA-B27. Các nghiên cứu cộng đồng cho thấy có khoảng 0,1-2% dân số có yếu tố HLA-B27 dương tính mắc bệnh VCSDK. Tuy nhiên tỷ lệ này có sự khác nhau tùy theo vị trí địa lý và chủng tộc: ở Bắc Mỹ tỷ lệ HLA-B27 trong cộng đồng là 7%, trong đó có tới 90% bệnh nhân VCSDK có HLA-B27 ở Nhật Bản chỉ 0,4% và tỷ lệ bênhh VCSDK rất thấp.
Bệnh lý cột số thể huyết thanh âm tính (BLCSTHTAT) nói chung và đặc biệt là bệnh VCSDK có mối liên hệ chặt chẽ với kháng nguyên bạch cầu HLA-B27 của hệ thống kháng nguyên hòa hợp tôt chức MHC (major histocompatibility complex). HLA-B27 là allen của locus HLA-B, là một trong 3 locus liên quan đến phân tử MHC lớp I. Nghiên cứu gen HLA-B, người ta thấy rằng HLA-B27 là alloantisera gồm có 7 phân nhóm đã được xác định là HLA-B*2701, HLA-B*2702, HLA-B*2703, HLA-B*2704, HLA-B*2705, HLA-B*2706, HLA-B*2707, trong đoa HLA-B*2705 là phân nhóm hay gặp nhất trong cộng đồng. Sự phối hợp BLCSTHTAT và HLA-B27 đã được xác định, kết quả nghiên cứu của Dougados M cho thấy tỷ lệ HLA-B27 ở bệnh nhân VCSDK là 90% bệnh viêm khớp phản ứng (VKPU) là 55%, bệnh Rister là 70%, và bệnh viêm khớp vẩy nến là 42%. Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Vân Anh thì tỷ lệ này gặp ở bệnh VCSDK ở Việt Nam là 87%.
Kháng nguyên HLA-B27 tuy có mối liên quan chặt chẽ với các bệnh nhân trong nhóm bệnh lý cột sống (BLCS), nhưng không có mối tương quan giữa HLA-B27 với mức độ nặng của bệnh cũng như tiến triển của bệnh. Do đó xét nghiệm xác định HLA-B27 không phải là xét nghiệm thường quy để chẩn đoán bệnh, mà chỉ có giá trị tham khảo khi có nghi ngờ trên chẩn đoán lâm sàng hoặc trong nghiên cứu phả hệ của bệnh.

1.2 Cơ chế bệnh sinh
Cơ chế bệnh sinh của bệnh VCSDK hiện nay chưa được biết rõ. Tuy bệnh VCSDK có mối liên quan tới yếu tố HLA-B27, nhưng HLA- B27 không phải là nguyên nhân sinh bệnh. Theo nhiều nghiên cứu cho thấy HLA-B27 là yếu tố gen cơ sở, dưới tác động của các yếu tố môi trường như vi khuẩn, thay đổi miễn dịch… dẫn đến bệnh lý VCSDK

1.3 Giải phẫu bệnh
Tổn thương cơ bản của bệnh là quá trình viêm mãn tính với quá trình xâm nhiễm của các tế bào lympho, tương bào, đại thực bào và các tổ chức xương dưới sụn, các điểm bám tận của gân, bao khớp dẫn đến xơ hóa và calci hóa mà biểu hiện sớm nhất và điển hình nhất là tổn thương ở khớp cùng chậu. Quá trình viêm tiến triển mãn tính dẫn đến bao khớp, màng hoạt dịch, sụn khớp xơ teo, vôi hóa, cốt hóa và dính khớp.
Tổn thương vùng cột sống chủ yếu là phần tổ chức đệm nằm giữa dây chằng dài trước cột sống và thân cột sống bị viêm kéo dài, cốt hóa và tạo nên hình ảnh cầu xương. Quá trình xơ hóa và vôi hóa dây chằng bên ngoài lan rộng toàn bộ cột sống dẫn đến dính cột sống tạo nên hình ảnh "cột sống thân cây tre".

2 Triệu chứng lâm sàng
2.1 Lâm sàng
* Khởi bệnh :
- 80% bệnh nhân mắc bệnh ở độ tuổi dưới 30, nam chiếm ưu thế 90%
- Bệnh thường xuất hiện từ từ( 80%) với triệu chứng đau mỏi vùng cột sống lưng, thắt lưng, có thể có dấu hiệu cứng và hạn chế vận động cột sống buổi sáng, tình trạng này được cải thiện sau khi bệnh nhân vận động, tập thể dục.
- Bệnh có thể xuất hiện đột ngột (20%) với dấu hiệu đau dây thần kinh hông, viêm khớp ngoại biên (khớp gối, khớp bàn cổ chân...), hoặc viêm các điểm bám gân như viêm gân Achille, viêm gai chậu, viêm mấu chuyển lớn.
- Thời gian khởi phát kéo dài vài tháng đến vài năm đa số bệnh nhân vẫn sinh hoạt và làm việc bình thường nên thường bị bỏ qua và không được chẩn đoán.
* Toàn phát:
- Biểu hiện lâm sàng chính của VCSDK là tổn thương cột sống và tổn thương ngoại biên có thể xuất hiện riêng rẽ (thể cột sống) hoặc phối hợp với nhau (thể phối hợp). Khác với các nước Tây Âu, ở Việt Nam bênh VCSDK chủ yếu là thể phối hợp tổn thương cột sống và các khớp ngoại biên trầm trọng, bệnh nhân chẩn đoán muộn điều trị không đúng nên tỷ lệ tàn phế khá cao.
- Viêm khớp ngoại biên:
+ Khớp tổn thương: viêm một hoặc vài khớp chủ yếu chi dưới ( khớp gối, khớp bàn cổ chân, khớp háng...), với biểu hiện lâm sàng như đau khớp, viêm khớp, hạn chế vận động, có thể có tràn dịch khớp ( khớp gối).
+ Viêm các điểm bám gân: hay gặp nhất là viêm gân Achille, viêm cân gan bàn chân với biểu hiện lâm sàng là đau vùng gót chân, viêm mào chậu, viêm mấu chuyển lớn, viêm lồi củ trước xương chày.
- Cột sống:
+ Đau cột sống là một trong triệu chứng xuất hiện ở các giai đoạn khởi phát, toàn phát và tiến triển của bệnh. Bệnh nhân có biểu hiện đau cột sống thắt lưng, cột sống lưng hoặc cột sống cổ âm thầm ngày càng tăng nhất là về đêm và sáng bệnh nhân rất khó xoay trở mình, rất khó dậy vào buổi sán. Tình trạng này giảm dần vào ban ngày sau khi bệnh nhân tập thể dục hoặc vận động sinh hoạt.
+ Đau cột sống kèm theo hạn chế vận động cột sống thắt lưng ở các động tác cúi, nghiêng, ngửa xoay, biểu hiện trên khám lâm sàng như cột sống mất đường cong sinh lý, teo cơ cạnh cột sống, và xác định bằng các nghiệm pháp:
* Khám cột sống cổ: hạn chế vận động cột sống cổ ở mọi tư thế (cúi, ngửa,nghiêng, quay), cột sống cổ ưỡn quá mức ra trước, giảm khoảng cách cằm- ức, tăng khoảng cách chẩm-tường.
* Khám cột sống lưng: cột sống ngực gù, đỗ giãn lồng ngực giảm.
* Khám cột sống thắt lưng: độ giãn cột sống giảm ( nghiệm pháp Schober (+): bệnh nhân đứng thẳng,hai gót chân chụm lại. Thầy thuốc đánh dấu môt điểm trên cột sống ngang với đốt thắt lưng năm L5, sau đó đo lên phía trên cột sống một đoạn 10 cm. Hướng dẫn bệnh nhân cúi xuống tới mức tối đa, đo lại khoảng cách đánh dấu: ở người bình thường khoảng cách dãn cột sống tăng lên trên 5cm, còn bệnh nhân VCSDK khoảng cách này tăng rất ít hoặc không thay đổi). Khoảng cách tay đất giảm (Nghiệm pháp tay đất: bệnh nhân đứng thẳng, hai gót chân chụm lại, cúi xuống hết sức. Thầy thuốc đo khoảng cách từ đầu ngón tay đến ngón chân cái, bình thường khoảng cách này dưới 20 cm, ở người bệnh khoảng cách tay đất trên 20cm thậm trí 30-50cm
* Đau vùng khớp cùng chậu: là dấu hiệu sớm, bệnh nhân tăng cảm giác đau khi ấn vào vùng khớp cùng chậu và có thể đau lan dọc xuống hai mông và đùi theo đường đi của dây thần kinh tọa.
- Các triệu chứng ngoài khớp:
+ Toàn thân: có thể có mệt mỏi, sốt nhẹ, ăn uống kém, giảm cân.
+ Tổn thương mắt: viêm mống mắt thể mi, viêm màng mạch nhỏ, viêm màng bồ đào.... Ở Việt Nam tổn thương này, ít gặp (2-4%) trong khi ở các nước Tây Âu tỷ lệ này là 20-35%.
+ Tổn thương nội tạng: hở động mạch chủ, xơ phổi, nhiễm bột thận...nói chung ít gặp nhưng tiên lượng thường nặng.

2.2 Xét nghiệm
* Xét nghiệm X-quang: là xét nghiệm quan trọng nhất trong chẩn đoán xác định bệnh và giai đoạn bệnh.
- Chụp X-quang qui ước: có giá trị chẩn đoán cao, giá thành thấp có thẻ áp dụng ở mọi cơ sở y tế.
Khớp cùng chậu: là dấu hiệu sớm để chẩn đoán, thường tổn thương ở 2 bên, có 4 mức độ tổn thương:
+ Giai đoạn 1: khe khớp rộng ra do mất calci dưới sụn
+ Giai đoạn 2: khe khớp mở, có hình răng cưa ở rìa khe khớp ( tem thư)
+ Giai đoạn 3: xơ hóa khớp, có thể dính một phần khớp
+ Giai đoạn 4: dính khớp cùng chậu hoàn toàn ( mất khe khớp)
- Cột sống: bao gồm các mức độ tổn thương từ nhẹ đến nặng, mất đường cong sinh lý, xơ hóa và calci hóa dây chằng cột sống (dấu hiệu đường ray), nếu có calci hóa dây chằng trước cột sống (Romanus). Hình ảnh cầu xương và "đốt sống cây tre" ở giai đoạn muộn.
- Khớp ngoại vi: hình ảnh hẹp khe khớp, bao mòn chỏm khớp, mất calci...
- Chụp cắt lớp vi tính (Citi-scanner), chụp cộng hưởng từ hạt nhân (MRI): có thể xác dịnh được tổn thương khớp cùng chậu ở giai đoạn sớm khi chưa phát hiện được bằng phương pháp chụp X-quang quy ước. Nhưng đây là kỹ thuật không được áp dụng rộng rãi trên lâm sàng vì giá thành cao, trang thiết bị đắt tiền.
* Xét nghiệm máu:các chỉ số về bằng chứng viêm như: máu lắng tăng, protein C phản ứng (CRP) tăng ở đa số bệnh nhân VCSDK.
* HLA-B27: tỷ lệ dương tính là 80-90%, nhưng không phải là xét nghiệm thường quy để chẩn đoán bệnh và tiên lượng bệnh vì giá thành xét nghiệm quá cao.Tuy nhiên dấy là xét nghiệm cần thiết góp phần vào chẩn đoán xác định bệnh VCSDK ở những bệnh nhân chỉ có biểu hiện lâm sàng mà không có tổn thương khớp cùng chậu trên phim X-quang.
* Chức năng hô hấp: giúp cho tiên lượng bệnh

3 Chẩn đoán
3.1 Chẩn đoán xác định

Dựa vào tiêu chuẩn chẩn đoán New York năm 1984:
* Tiêu chuẩn lâm sàng:
- Tiền sử hay hiện tại đau vùng thắt lưng, hay vùng lưng thắt lưng.
- Hạn chế vận động thắt lưng ở cả 3 tư thế cúi, ngửa-nghiêng, và quay.
- Độ giãn lồng ngực giảm.
* Tiêu chuẩn X-quang: viêm khớp cùng chậu (giai đoạn 3,4)
Chẩn đoán xác định khi có một tiêu chuẩn lâm sàng và một tiêu chuẩn X-quang

3.2 Chẩn đoán phân biệt
* Các bệnh cột sống: viêm đốt sống do vi khuẩn (bệnh nhân sốt, rất đau cùng cột sống bị tổn thương, chụp X-quang có hình ảnh tổn thương thân đốt sống...) thoái hóa cột sống (thường gặp ở người lớn tuổi, không có biểu hiện viêm cột sống trên lâm sàng và xét nghiệm), đau, gù đốt sống trong bệnh Scheurmann, bệnh Forestier
* Các bệnh khớp: lao khớp háng, gout, thoái hóa khớp háng, khớp gối....

4. Tiến triển và phân loại
Bệnh VCSDK tiến triển mãn tính với các đợt tái phát đầu đến teo cơ, dính khớp, cứng cột sống và bệnh nhân có thể bị tàn phế.
Bệnh VCSDK gồm có các thể lâm sàng chính:thể cột sống, thể các chi, thể hỗn hợp, thể phụ nữ.

5 Điều trị
Mục đích điều trị : nhằm kiểm soát đau, và viêm, duy trì khả năng vận động khớp, cột sống, và phòng biến dạng khớp, cột sống.

5.1 Vận động liệu pháp
Vận động đóng vai trò rất quan trọng trong liệu pháp điều trị nhằm hạn chế teo cơ, dính khớp, bảo toàn và duy trì chức năng vận động cột sống, khớp cho bệnh nhân. Tư vấn cung cấp các thông tin và hướng dẫn cho bệnh nhân các bài vận động liệu pháp: vận động cột sống và khớp ở các tư thế cơ năng đúng: nằm ngủ trên nền cứng và gối mỏng hoặc không có gối, không ngồi xổm, không mang vác nặng...Tham gia các môn thể thao thích hợp như bơi, đi bộ, đi xe đạp....Nếu có điều kiện có thể phối hợp với các phương pháp điều trị vật lý trị liệu khác như chiếu tia hồng ngoại, siêu âm, bó farafin, tắm nước khoáng, tắm bùn, xoa bóp....Trong giai đoạn bệnh tiến triển cấp tính: đau, hạn chế vận động cột sống nhiều, viêm các khớp ngoại biên, bệnh nhân phải được nghỉ ngơi, vận động nhẹ nhàng, tránh các bài tập khớp quá nặng.

5.2 Điều trị thuốc
Thuốc chống viêm không steroid:
* Indomethacin: 24-75mg/ngày là thuốc có hiệu quả tốt trong kiểm soát bệnh và chi phí thấp, tuy nhiên cẩn trọng chỉ định đối với bệnh nhân có bệnh viêm loét dạ dày.
* Các thuốc giảm đau chống viêm không steroid khác, tùy từng điều kiện kinh tế và đáp ứng của bệnh nhân có thể lựa chon một trong số các thuốc sau: naproxen (1000mg/ngày), proxicam (20mg/ngày), Voltaren( 50-100mg/ngày)....cần lưu ý kích ứng của dạ dày của nhóm thuốc này khi điều trị bệnh nhân
Sulfasalazin: 500-1000mg/ngày, có hiệu quả tốt ở bệnh nhân phối hợp, viêm khớp ngoại biên, và đặc biệt ở giai đoạn sớm của bệnh
* Các thuốc khác: muối vàng, choloroquin, methotrexat, cyclophosphomid...
- Hiện nay các nhóm thuốc sinh học mới như các kháng thể chống yếu tố loại tử u TNFa: infliximab (Remicade), Entanecept... đang được áp dụng điều trị có hiệu quả tốt cho bệnh VCSDK, tuy nhiên vì giá thành điều trị rất đắt nên chưa thể điều trị phổ biến cho bệnh nhân
- Corticoid: không nên điều trị corticoid toàn thân cho bệnh nhân VCSDK vì hiệu quả không tốt và có rất nhiều tác dụng phụ. Chỉ nên chỉ định điều trị tại chỗ: tiêm khớp, tiêm các điểm bám gân...

5.3 Phẫu thuật chỉnh hình
Thay khớp háng hoàn toàn, thay chỏm khớp háng, thay khớp gối, được chỉ định trong các trường hợp bệnh nhân bị dính khớp, biến dạng điều trị không phục hồi bằng các phương pháp điều trị nội khoa.
VCSDK là bệnh viêm khớp mãn tính, cần phải được chẩn đoán và điều trị sớm, điều trị đúng ngay tại các cơ sở y tế địa phương nhằm hạn chế tình trạng dính khớp, biến dạng khớp giúp nâng cao chất lượng cuộc sống của người bệnh.

II Bệnh viêm khớp phản ứng

1 Đại cương
Viêm khớp phản ứng (VKPƯ) là bệnh viêm khớp vô khuẩn xuất hiện sau một nhiễm trùng ở một số cơ quan nào đó trong cơ thể (chủ yếu là nhiễm khuẩn hệ tiết niệu sinh dục và hệ tiêu hóa). VKPƯ là một bệnh mang tính chất hệ thống không chỉ giới hạn tổn thương ở khớp mà còn ở một số cơ quan khác như mắt, hệ tiết niệu sinh dục, hệ tiêu hóa...
Viêm khớp phản ứng (VKPƯ), do Hans Reiter mô tả lần đầu tiên vào năm 1916 và có tên gọi là bênh Reiter với ba triệu chứng điển hình: viêm kết mạc mắt, viêm niệu đạo và viêm khớp. Bệnh VKPƯ thường gặp ở người trẻ tuổi, 90% bệnh nhân từ 20-40 tuổi, tỷ lệ mắc bệnh ở nam và nữ gần bằng nhau. Mức độ và tiến triển của bệnh rất khác nhau, có khoảng 10-20% bệnh viêm khớp phản ứng là biểu hiện giai đoạn sớm cuả bệnh viêm cột sống dính khớp. Vì vậy nên việc chẩn đoán và điều trị sớm bệnh viêm khớp phản ứng sẽ giúp cho người bệnh tránh được những hậu quả nặng nề vê chức năng vận động khớp và khả năng lao động.

1.1 Dịch tễ học
Do mức độ nặng nhẹ của bệnh VKPƯ rất khác nhau nên những trường hợp nhẹ đều rất dễ bỏ qua vì vậy tỷ lệ mắc bệnh của VKPƯ rất khó được xác định chính xác. Tuy nhiên theo nghiên cứu của nhiều tác giả thì tỷ lệ mắc bệnh sẽ ngày càng tăng cùng tốc độ tăng của các bệnh lây truyền qua đường tình dục cũng như sự hiểu biết về bệnh và khả năng chẩn đoán bệnh của cán bộ y tế được nâng cao, ở Mỹ tỷ lệ mắc bệnh VKPƯ là 40/100.000 dân và tỷ lệ mới mắc bệnh VKPƯ hàng năm ở Mỹ là 3,5 trường hợp trên 100.000 dân

1.2 Cơ chế bệnh sinh
Cơ chế bệnh sinh của bệnh VKPƯ hiện nay chưa được biết rõ VKPƯ là một tình trạng viêm khớp vô khuẩn xảy ra sau một nhiễm khuẩn nào đó trong cơ thể mà không tìm thấy vi khuẩn tại khớp, VKPƯ là hậu quả của quá trình tồn tại dai dẳng của kháng nguyên vi khuẩn và sự khuyech tán của kháng nguyên vi khuẩn hoặc phức hợp miễn dịch lắng động tại khớp và đây chính là một trong những nhân tố khởi phát và duy trì phản ứng viêm tại màng hoạt dịch khớp.
Yếu tố gen cũng giữ một vai trò quan trọng trong bệnh sinh của bệnh VKPƯ, đặc biệt là yếu tố HLA-B27 dương tính ở 30-70% bệnh nhân VKPƯ.

2 Triệu chứng
2.1 Lâm sàng
* Tiền sử: cần phải khai thác kỹ tiền sử nhiễm khuẩn đường tiết niệu sinh dục, đường ruột trong thời gian 6-24 tháng (đặc biệt là trong thời gian 4-8 tuần trước khi xuất hiện viêm khớp)
* Viêm khớp: thường viêm một hoặc một vài khớp lớn chủ yếu ở chi dưới và không đối xứng. Các khớp hay bị tổn thương nhất là: khớp gối, khớp bàn cổ chân, khớp bàn ngón chân, khớp cùng chậu...Biểu hiện lâm sàng: đau, viêm khớp, hạn chế vận động, có thể có tràn dịch khớp gối, khớp bàn cổ chân. Nhiều trường hợp bệnh VKPƯ có tổn thương khớp nhỏ như khớp bàn ngón tay, bàn ngón chân đơn độc tạo nên hình ảnh ngón tay, ngón chân hình khúc dồi ( hình xúc xích)
* Viêm điểm bám gân: là đặc điểm lâm sàng điển hình của bệnh VKPƯ viêm gân Achille, viêm cân gan bàn chân, viêm điểm bám gân mào chậu...là các điểm bám gân hay bị tổn thương nhất
* Hội chứng tiết niệu sinh dục: viêm niệu đạo (đái khó, đái buốt) hay gặp ở nam giới: Ở nữ giới hay do viêm cổ tử cung nhưng thương diễn biến âm thầm không biểu hiện triệu chứng trên lâm sàng.
* Hội chứng mắt: viêm kết mạc, viêm võng mạc thường kết hợp với đau mắt, sợ ánh sáng đôi khi có thể giảm thị lực cấp tính.
* Tổn thương dạ dày, ruột: đau bụng, ỉa chảy kéo dài không rõ nguyên nhân, không ảnh hưởng đến sức khỏe.
* Tổn thương da và niêm mạc: xuất hiện ở da và móng, viêm loét bao quy đầu, viêm loét lưỡi, niêm mạc miệng...
* Tổn thương nội tạng: rất hiếm gặp, có thể viêm màng ngoài tim, hở động mạch chủ và thường là tiên lượng rất nặng.

2.2 Xét nghiệm
Không có xét nghiệm đặc hiệu để chuẩn đoán VKPƯ, nhưng cần tiến hành một số xét nghiệm để chẩn đoán phân biệt với một số bệnh khác
* Máu: công thức máu, máu lắng. Các xét nghiệm sinh hóa máu
* Nước tiểu: Protein ,tế bào
* Dịch khớp: Màu sắc, số lượng bạch cầu...
* Nuôi cấy: nước tiểu, dịch khớp
* Xét nghiệm miễn dịch xác định sự có mặt của các kháng nguyên, kháng thể của một số loài vi khuẩn: Chlamydia, Salmonella...
* X-quang: chụp X-quang các khớp tổn thương.

3 Chẩn đoán
3.1 Chẩn đoán xác định
Có thể áp dụng một trong hai tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh VKPƯ: tiêu chuẩn chẩn đoán của Amor và tiêu chuẩn chẩn đoán của nhóm nghiên cứu bệnh lý cột sống Châu Âu:
Chẩn đoán xác định:
* Tiêu chuẩn chẩn đoán của Amor (1983) gồm các tiêu chuẩn sau:
- Viêm vô khuẩn một hoặc vài khớp không đối xứng
- Ỉa chảy, hay hội chứng lỵ.
- Viêm màng tiếp hợp mắt
- Viêm niệu đạo, cổ tử cung
- Viêm loét trợt da, niêm mạc
- Cơ địa: HLA-B27(+), hoặc có tiền sử gia đình bệnh VCSDK
- Các xét nghiệm tìm thấy tác nhân gây bệnh trực tiếp hoặc gián tiếp.
Bệnh VKPƯ được chẩn đoán khi có 4/7 triệu chứng trên. Tuy nhiên tiêu chuẩn của Amor hiện nay ít áp dụng vì độ nhày thấp.
* Tiêu chuẩn chẩn đoán của nhóm BLCSTHTAT gồm có:
1. Đau, viêm cột sống hoặc
2. Viêm màng hoạt dịch khớp ( chủ yếu là khớp ở chi dưới và không đối xứng)
Có kèm theo một trong các hội chứng sau đây:
- Có tiền sử gia đình bệnh viêm cột sống dính khớp
- Viêm khớp vẩy nến
- Bệnh lý ruột
- Đau vùng chậu hông
- Bệnh lý phần mềm quanh khớp
- Viêm khớp cùng chậu
- Viêm niệu đạo sinh dục

3.2 Chẩn đoán phân biệt
Bệnh VKPƯ cần chẩn đoán phân biệt với các bệnh sau:
* Viêm khớp nhiễm khuẩn: bệnh nhân sốt, các biểu hiện của nhiễm khuẩn tại chỗ hoặc toàn thân, khớp viêm cấp tính, tổn thương viêm thường lan tỏa các tổ chức mềm cạnh khớp, có thể xác định được vi khuẩn gây bệnh bằng các xét nghiệm dịch khớp, máu...
* Bệnh gút: thường gặp ở nam, tuổi trung niêm, viêm khớp cấp tính hay gặp nhất là khớp bàn ngón chân cái, khớp bàn cổ chân, khớp gối, các xét nghiệm acid uric máu tăng cao, có thể tìm thấy tinh thể urat trong dịch khớp...và đáp ứng tốt với điều trị bằng colchicin.
* Viêm khớp dạng thấp: đặc biệt đối với thể bệnh viêm khớp dạng thấp thể một khớp
* Viêm khớp trong bệnh suy giảm miễn dịch mắc phải ở bệnh nhân nhiễm HIV: bệnh nhân có tiền sử nghiện ma túy, mại dâm, có thể trạng suy kiệt, sốt kéo dài, nhiễm lao, nhiễm nấm, hạch to, viêm loét da và niêm mạc, xét nghiệm có HIV dương tính...

4 Điều trị
Thuốc chống vêm không steroid: mục đích để kiểm soát viêm màng hoạt dịch: Voltaren(50-100mg/ngày), indomethacin (50-100mg/ngày), Mobic (7,5-15mg/ngày)
- Sulfasalazin: 1000-2000mg/ngày, có hiệu quả tốt trong điều trị kiểm soát bệnh, đặc biệt ở những bệnh nhân có nhiễm Chlamydia trachomatis thời gian điều trị phải kéo dài 3-6 tháng mới đạt được hiệu quả
- Liệu pháp ức chế miễn dịch: methotrexat, azathioprin...
- Corticoid: chỉ có hiệu quả tốt khi điều trị tại chỗ: tiêm nội khớp, tiêm các điểm bám gân.
- Kháng sinh: chỉ điều trị khi xác định được nguyên nhân gây bệnh: quinolon, tetracyclin, lymecyclin...

5 Tiên lượng
Tiên lượng VKPƯ nhìn chung là tốt, bệnh VKPƯ có thể khỏi hoàn toàn, mặc dù thời gian mắc bệnh kéo dài từ vài tuần, vài tháng, đến vài năm. Tuy nhiên bệnh VKPƯ hay tái phát không phải chỉ do tình trạng tái nhiễm khuẩn mà còn do các stress, các chấn thương không đặc hiệu khác.Một điều lưu ý là có khoảng 10-20% bệnh viêm khớp phản ứng là giai đoạn sớm của bệnh viêm cột sống dính khớp, vì vậy việc chẩn đoán sớm, điều trị kịp thời bệnh VKPƯ sẽ có hiệu quả tốt trong điều trị và kiểm soát bệnh nha tránh được các tổn thương xương khớp, biến dạng khớp và nguy cơ bị tàn phế.

III Viêm khớp vẩy nến

1 Đại cương
Viêm khớp vẩy nến (VKVN) chiếm tỷ jệ từ 5-7% bệnh nhân mắc bệnh vảy nến (loại trừ những bệnh nhân vẩy nến có dạng thấp dương tính và những bệnh nhân nghi ngờ phối hợp vẩy nến và bệnh viêm khớp dạng thấp). Vẩy nến là một bệnh thường gặp chiếm tỷ lệ 1-2% trong cộng đồng, bệnh thường xuất hiện ở độ tuổi 20-30. Cơ chế bệnh sinh của bệnh viêm khớp vẩy nến hiện nay chưa được biết rõ, mặc dù yếu tố gen được cho là một trong những nguyên nhân gây bệnh, và tỷ lệ mắc bệnh này ở người song sinh là 70%. Tuy nhiên một số yếu tố môi trường, nhiễm khuẩn khác cũng được đề cập đến, bởi vì rất nhiều tổn thương vẩy nến phối hợp với nhiễm liên cầu, tụ cầu nên viêm khớp vẩy nến còn là một thể của bệnh viêm khớp phản ứng. Viêm khớp vẩy nến có tính gia đình (50%), tỷ lệ mắc bệnh ở nam và nữ là 1:1

2 Triệu chứng
2.1 Lâm sàng
- Viêm vài khớp:
+ Viêm vài khớp chiếm tỷ lệ 70% bệnh nhân VKVN.
+ Viêm vài khớp không đối xứng khớp lớn như khớp gối và chủ yếu là một số khớp khác như khớp bàn ngón gần, khớp bàn ngón xa, khối xương bàn chân.
+ Sưng nề một hoặc nhiều ngón tay, ngón chân (hình xúc xích)
- Viêm nhiều khớp đối xứng: bệnh cảnh gần giống như viêm khớp dạng thấp, yếu tố dạng thấp âm tính và chiếm tỷ lệ 15% bệnh nhân VKVN.
- Viêm các khớp liên đốt không đối xứng: viêm các khớp liên đốt không đối xứng ở tay, chân chiếm tỷ lệ 10%
- Viêm khớp biến dạng: chiếm tỷ lệ 5% bệnh nhân VKVN, biểu hiện lâm sàng biến dạng co rút cá ngón tay, chân do tiêu xưong và calci hóa tổ chức mềm cạnh khớp.
- Vẩy nến phối hợp với bệnh cột sống:
Chiếm tỷ lệ 5% bệnh nhân VKVN, có các triệu chứng lâm sàng và hình ảnh tổn thương khớp cùng chậu trên phim X-quang giống như bệnh viêm cột sống dính khớp và 40% bệnh nhân thuộc nhóm này có HLA-B27 dương tính.
-Tổn thương vẩy nến ở da, móng.
- Tổn thương ngoài khớp:
Bệnh lý viêm mắt chiếm tỷ lệ 30% bệnh nhân VKVN, ngoài ra có thể có các triệu chứng sốt, gầy sút, cứng khớp buổi sáng, đau cột sống thắt lưng...

2.2 Xét nghiệm
- Yếu tố dạng thấp RF dương tính ở 10% bệnh nhân viêm khớp vẩy nến
- Máu lắng tăng ở giai đoạn tiến triển của bệnh
- Acid uric máu tăng ở 10-20% bệnh nhân VKVN
- Bổ thể huyết thanh tăng
- X-quang hình ảnh mất calci, bào mòn đầu xương, ổ loét xương ngón tay, chân ... hoặc hình ảnh tổn thương khớp cùng chậu, cột sống giống như tổn thương trong bệnh viêm cột sống dính khớp.

3 Chẩn đoán
Chẩn đoán phân biệt:
- Hội chứng Reiter: thường tổn thương khớp lớn ở chi dưới và có tỷ lệ HLA-B27 dương tính cao hơn VKVN và không có tổn thương vẩy nến ở da
- Gút: ở bệnh nhân viêm khớp vẩy nến không tìm thấy tinh thể urat trong dịch khớp
- Viêm khớp dạng thấp: dựa vào tổn thương da, móng và không có hạt thấp dưới da ở bệnh nhân VKVN

4 Điều trị
4.1 Vật lý trị liệu
Điều trị phối hợp với điều trị thuốc để phục hồi chức năng vận động khớp, chống teo cơ, dính khớp. Hạn chế tổn thương da, tắm bùn, tắm nước khoáng, chiếu tia cực tím...

4.2 Thuốc
* Thuốc chống viêm không steroid: mục đích để kiểm soát tình trạng viêm khớp. Tùy từng trường hợp bệnh nhân có thể điều trị một trong các loại thuốc sau đây:
- Ibuprofen: 600mg, 4 lần một ngày
- Indomethacin: 200mg/ngày, có hiệu quả tốt ở cả hai thể cột sống và thể ngoại biên.
- Piroxicam: 20mg/ngày
* Thuốc thây đổi hình thái bệnh:
- Muối vàng: có hiệu quả tốt trong điều trị VKVN thể ngoại biên. Liều dùng: tiêm bắp liều 10mg/tuần và tăng dần trong cá tuần tiếp theo 20-30-40mg/tuần. Nếu đạt hiệu quả tốt dùng liều duy trì 50mg/tháng để đạt tổng liều là 1000mg.
- Thuốc chống sốt rét: có hiệu quả kiềm chế bệnh hydroxychloroquin 200mg/ngày
- Sulfasalazin:1000mg/ngày
- Các thuốc ức chế miễn dịch : methatrexat 7,5-25mg/tuần
- Corticoid: rât thận trọng khi điều trị toàn thân vì có nguy cơ làm tăng bệnh khi liều hoặc khi ngừng thuốc
- Tiền vitamin E:có hiệu quả trên thử nghiệm lâm sàng sau 6 tuần đến 3 tháng, với liều điều trị 30mg/ngày
- Cyclosporin A: có hiệu quả ở thể VKVN nặng nhưng thận trọng theo dõi lượng creatinin máu và huyết áp trong quá trình điều trị
- Liệu pháp tia: điều trị phối hợp methoxypsoralen vói tia tử ngoại sóng dài A có hiệu quả với VKVN ngoại vi có tổn thương da nhiều
* Phẫu thuật chỉnh hình khớp đối với bệnh nhân biến dạng khớp nhiều

5 Tiên lượng
Tiên lượng bệnh phụ thuộc vào mức độ tổn thương da và số lượng khớp viêm, có khoảng 5% bệnh tiến triển nặng dẫn đến tàn phế.

  

 

Mời bạn xem thêm:

CÔNG TY CỔ PHẦN HAPPYPHARM

Địa chỉ: 63 Khương Thượng, Đống Đa, Hà Nội
Điện thoại: 04 629 67115 - 046 2967114 - Fax: 043 641 9838
Email: info@happypharm.com.vn
Website: http://www.happypharm.com.vn